Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Biết mình muốn gì

Biết mình muốn gì thật là khó! 

Cứ cho là mình sinh ra trong gia đình khá giả, được yêu thương dạy dỗ và tự do làm những gì phải lẽ từ bé. Liệu mình có biết mình muốn gì không?
Cứ nghĩ một cách bình thường thì điều ấy còn phụ thuộc vào mình sinh ra trong gia đình truyền thống hay mới khá lên. Còn phụ thuộc mình đang sống ở thành thị hay nông thôn, tỉnh hay thành phố. Còn phụ thuộc vào nơi mình đi học, bè bạn mình giao du. Và Tổ Quốc mình là nước nào.

Quả là sinh ra trên đời, sớm biết mình muốn gì thật khó biết bao.

Theo nhà Phật thì tùy vào kiếp trước mình có ước vọng gì và khát vọng gì thì kiếp này mình sẽ nối tiếp. Khát khao trong tiềm thức tỉnh dậy trong kiếp này. Mỗi cuộc đời sẽ như một khúc của dòng sông. Có dòng sẽ chảy vào hồ, có dòng ra tới biển. Và có những dòng cạn dần và biến mất.

Ai sinh ra sớm biết mình muốn gì thật may mắn biết bao. Ngay từ lúc trưởng thành mình sẽ chỉ làm việc ấy theo kiểu "sinh ra để làm việc đó". Chắc là ai cũng hạnh phúc khi được làm việc mình muốn, theo "thiên bẩm" của mình và luôn thưởng thức cuộc đời vì luôn được vui vẻ, hay vất vả vì nó, cả đau buồn nữa như cuộc đời luôn đủ các vị đắng, chua, cay hay mặn, ngọt.
Cuộc đời vốn cơm áo gạo tiền hầu như bất tận với đa số thân phận.

Đa số chúng ta đều chẳng biết mình muốn gì vì không có cơ hội chọn lựa.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

ĐỀN THỜ CHU VĂN AN - NÚI PHƯỢNG HOÀNG - CHÍ LINH - HẢI DƯƠNG

Núi Phượng Hoàng và Đền thờ Chu Văn An được xây dựng tại núi Phượng Hoàng, xã Văn An, huyện Chí Linh (Hải Dương), cách khu di tích Côn Sơn khoảng 4 Km. Đây cũng là một điểm di tích văn hoá và danh thắng với cảnh rừng thông trùng điệp, có đền thờ và Lăng mộ người thầy giáo của muôn đời - Thầy giáo Chu Văn An. Núi Phượng Hoàng có rừng thông bát ngát, suối trong rì rào, đá núi lô xô, chùa tháp cổ kính với 72 ngọn núi ngoạn mục, một vùng núi nằm giữa một quần thể di tích và danh thắng, nơi di dưỡng tinh thần của danh nhân từ thời Lý- Trần. Tại đây có Huyền Thiên tự, Lệ Kỳ tự là những ngôi chùa cổ nổi tiếng. 
Chu Văn An(1292- 1370) là một nhà giáo lừng danh thời Trần, quá nửa đời người làm Tư nghiệp Quốc tử giám, học trò nhiều người thành đạt. Sau khi dâng Thất trảm sớ, tâu vua giết 7 tên nịnh thần không thành công, ồng về Phượng Hoàng ẩn dật, dậy học, bốc thuốc, làm thơ để lại cho hậu thế.  Ông sống ở đây hơn mười năm đến khi mất năm 1370, hưởng thọ 78 tuổi. Sau khi qua đời, được nhà vua tặng thụy hiệu là Văn Trinh, học trò an táng tại đây và lập đền thờ gọi là đền Phượng Hoàng. 
Khu di tích bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1997, từng hạng mục công trình được khôi phục bằng tiền công đức của giáo viên và học sinh cả nước. Tại đây còn nhiều dấu tích thời Trần và bia ký nói về sự nghiệp thầy Chu và quá trình tôn tạo đền thờ Chu Văn An. Cuối triều Lê Trung Hưng được xếp vào hàng Chí Linh Bát cổ.
 

Theo sử sách, Chu Văn An , nguyên có tên là Chu An, tự là Linh Triệt, biệt hiệu là Linh Triệt. Vua Trần Minh Tông đã mời ông về kinh làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương chức Hiệu trưởng trường đại học hiện nay), trực tiếp dạy học Thái tử.

 

Đền thờ Nhà giáo Chu Văn An - người được các sử gia và nhân dân tôn vinh là "Vạn thế sư biểu" - đã khánh thành vào ngày 4-1.-2008. Đền thờ được khởi công từ 15-2-2004, kinh phí đầu tư lên tới gần 16 tỷ đồng từ nguồn tài trợ của Bộ Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, tỉnh Hải Dương và công đức của nhân dân. Công trình được tu bổ, tôn tạo dựa trên phế tích nhân dân dựng đền thờ tại nơi ông làm nhà dạy học ở núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc (nay là xã Văn An), nơi có 4 trong số 8 di tích nổi tiếng của đất Chí Linh xưa (Chí Linh Bát cổ) gồm, Huyền Thiên cổ tự (chùa cổ Huyền Thiên), Thượng tề cổ trạch (nhà cũ của quan tể tướng Trần Quốc Chẩn sống cuối thời Trần), Tinh Phi cổ tháp (tháp mộ Bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ Nho học duy nhất của nước ta, sống trong thời Lê - Trịnh) và Tiều Ân cổ bích (nhà ở ẩn của Chu Văn An). Công trình với các hạng mục chính như: đền thờ, phần mộ, hai dãy nhà giải vũ, điện Lưu Quang, tháp bút, giếng Son, Miết Trì (ao nuôi ba ba), đặt trong tổng thể kiến trúc hài hòa, vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa có nét hiện đại và tạo cảnh quan hoành tráng. Để mở rộng không gian di tích, núi Phượng Hoàng được bạt sâu vào phía trong hàng chục mét. Di tích Phượng Hoàng còn được nối với khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc bằng con đường nhựa dài 8km.

 



Quang cảnh đền thờ Chu Văn An
 







Quang cảnh sân đền



Trong đền




Viết sớ đầu năm cho học trò

Đường lên núi


Mộ nhà giáo Chu Văn An
 

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Thơ về Mẹ ( sưu tầm )

Cho con nỗi nhớ không rời


Cho con ấm cả chân trời nắng lên


Ngày về tóc mẹ bạc thêm


Mong con chân cứng đá mềm phương xa


Đôi khi nhìn ráng chiều tà


Chừng như thấp thoáng quê nhà nhớ thương


Nhớ thương xin được hát thầm


Lời ru của mẹ ngàn năm mãi còn


 


Ngôn ngữ trần gian như túi rách


Đựng sao đầy hai tiếng Mẹ Yêu


Với tay con níu thời gian


Thời gian lặng lẽ bay vào hư vô


Một lạy này xin được tạ lỗi ngày xưa con bất hiếu


Đã từng làm mẹ khóc như mưa


Từng làm mẹ khổ ngày xưa, trăm ngàn lạy cũng chưa vừa ơn mẹ


 


Năm xưa tôi còn bé


Mẹ tôi đã qua đời


Lần đầu tiên tôi hiểu


Thân phận trẻ mồ côi


Quanh tôi ai cũng khóc


Im lặng tôi sầu thôi


Mặc dầu nước mắt chảy


Là bớt khổ đi rồi


Độ nhỏ tôi không tin


Người thân yêu sẽ mất


Hôm ấy tôi sững sờ


Và nghi ngờ trời đất


Từ nay tôi hết thấy


Trên trán mẹ hôn con


Những khi tôi phải đòn


Đau lòng mẹ la lại


Kìa nhà ai bên cạnh


Mẹ con vỗ về nhau


Tim mẹ tôi không thấy


Lúc buồn biết trốn đâu


Hoàng hôn phủ trên mồ


Chuông chùa nhẹ rơi rơi


Tôi biết tôi mất mẹ


Là mất cả bầu trời


 


(Xuân Tâm)


 


Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ


Đức cù lao muôn một trả chưa xong


Lá ngô lay ở bờ sông


Bờ sông vẫn gió người không thấy về


Xin người hãy trở về quê


Một lần cuối, một lần về cuối thôi


Về thương lại bến sông trôi


Về buồn lại đã một thời tóc xanh


Lệ, xin giọt cuối để dành


Vương trên mộ mẹ nương hình bóng cha


 


Mẹ có nghĩa là mãi mãi


Là cho đi không đòi lại bao giờ


Mẹ có nghĩa là duy nhất


Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng


Mẹ có nghĩa là tình yêu


Mẹ có nghĩa là sự sống, là hạnh phúc


Nhưng chỉ một lần mẹ không ngăn con khóc


Là khi  mẹ không thể nào lau nước mắt cho con


Là khi  mẹ không còn,


hoa hồng đỏ, từ đây hoa trắng


 


Tôi không khóc khi cài hoa trắng


Vì trong hoa tôi thấy mẹ tôi cười


 


 

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

GIEO HẠT DỌC ĐƯỜNG ĐI

Chào các bạn,


Đời là một chuyến đi không biết điểm đến. Rất ít ai đến được điểm mình dự định. Thông thường ta bắt đầu cuộc hành trình với một ‎‎ý niệm đích điểm trong đầu, chỉ để nhận ra rất sớm là cuộc đời có rất nhiều chỗ rẽ bất ngờ, và sau một lúc thì ta chẳng chắc là đời ta rồi sẽ về đâu. Nhưng như vậy thì đời mới vui. Đọc truyện mà biết được đoạn cuối ngay từ khi khởi đầu thì cụt hứng rồi. Nhưng như vậy có nghĩa là đường đời không phải là đường thẳng, mà là đường quanh co ngoằn nghèo, cứ như đường rừng. Đôi khi đi cả chục cây số rồi mới khám phá ra là mình chỉ lại đến ngay điểm khởi hành.

planting-seeds

Đường đời thật là thế. Nếu quan sát trẻ em và người già thì ta thấy rất giống nhau—cả hai cùng rất yếu về thể xác và cùng nhiều tình cảm hơn ly’ luận. Và ta bắt đầu từ bụi đất, sẽ trở về cùng bụi đất. Điểm cuối cũng là điểm khởi hành.


Khái niệm đường vòng này rất ích lợi trong kế hoạch sống của chúng ta. Nếu ta biết đời không phải là đường thẳng và ta có thể vòng lại điểm đã qua, thì tốt hơn là trên mỗi bước đi, ta nên ném ra vài hạt trái cây ngũ cốc bên đường, hy vọng là dọc đường sẽ mọc nhiều cây trái, để lúc nào đó ta vòng lại thì có thể đã có sẵn trái ngon chờ đợi! Đi đến đâu gieo hạt giống đến đó, tức là sống hôm nay mà trồng cho ngày mai đó, các bạn ạ.


Dĩ nhiên là không phải hạt nào cũng lên cây tốt. Nhiều hạt sẽ bị chim ăn, nhiều hạt sẽ chết đi, nhưng sẽ có một ít hạt nầy mầm sinh cây. Và những cây này, biết đâu lại sinh hoa trái và chim chóc sẽ mang hạt của chúng gieo rắc hàng bao nhiêu dặm xa khắp nơi. Cuộc đời biến hóa vô lường, làm sao ta có thể đoán hết hậu quả của chỉ một hạt nẩy mầm, huống chi là khi ta gieo nhiều hạt mỗi ngày.


Cho nên nếu sống khôn ngoan, thì ta gieo hạt trên mỗi bước đi.


Nhưng các hạt đó là những gì?


Thưa, chúng ta có thể chia các hạt ta có sẵn trong túi ra thành vài nhóm.


1. Những nụ cười, những lời cảm ơn, và những lời nói hiền dịu.


2. Tiền tài: Nếu có thể cho ai một tí tiền, thì cho. Nếu có thể cho ai mượn một tí tiền, thì cho mượn. Nếu có thể giúp ai đở đói một ngày, thì giúp.


3. Công việc: Nếu có thể mách bảo ai một cơ hội làm ăn thì mách bảo. Nếu có thể chỉ ai có một được một công việc thì chỉ. Nếu có thể dạy ai một cách kiếm tiền thì dạy.


4. Kiến thức: Nếu có thể dạy ai đó biết đọc, biết làm toán, thì dạy. Nếu có tài năng gì đó có thể chia sẻ lại với mọi người thì chia sẻ. Nếu có kỹ năng sống nào đó có thể dạy lại cho mọi người thì dạy.

apple_tree

5. Đạo đức và triết l‎y’ sống: Nếu ta đã có kinh nghiệm sống biết thế nào là đạo đức, thế nào là thiếu đạo đức, thế nào là tốt cho cuộc sống, thế nào là có hại, con đường nào sẽ đưa đến khổ đau, con đường nào sẽ đưa đến an lạc, thì hãy chia sẻ lại với anh chị em, nhất là những người ít kinh nghiệm sống hơn.


6. Cách tự sống vững trên hai chân: Có lẽ điều tốt nhất ta có thể trao tặng một người là kiến thức và kinh nghiệm giúp cho người đó có thể tự sống, tự xoay sở, dù là họ có lọt vào bất kỳ tình huống khó khăn nào. Đây là giúp cho họ kỹ năng sống cũng như tự tin để sống mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Phần cốt cán của nó là tư duy tích cực.


Tất cả những điều này mỗi chúng ta đều đã có sẵn trong túi không ít thì nhiều. Chẳng tốn kém tiền bạc hay công lao chỉ để lấy ra vài hạt trong túi ném ra bên lề đường mình đang đi.


Và tất cả các hạt này đều chỉ nằm trong một gia đình thực vật lớn, gọi là “tình yêu.”


Nếu mỗi người chúng ta đều gieo hạt dọc đường thì sẽ có hai chuyện xảy ra. Thứ nhất, riêng cá nhân ta, một lúc nào đó ta sẽ hưởng được trái ngọt của hạt giống ta gieo hôm nay. Bắt buộc là như vậy. Càng gieo nhiều và càng sống lâu, xác suất được hưởng của ta càng tăng rất cao. Thứ hai, khi nhiều người gieo dọc đường, thì ai đi đâu, dọc đường nào, cũng đều có trái ngon chờ mình trên cây.


Chúc các bạn một ngày vui. Hạt nào bạn gieo hôm nay?


Mến,


Hoành

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

Giữa hai chiều quên nhớ

Chưa đủ nhớ để gọi là yêu,
Chưa đủ quên để thành xa lạ,
Anh ám ảnh em giữa hai chiều nghiệt ngã,
Nghiêng bên này lại chống chếnh bên kia.

Ngôi sao nào thổn thức giữa trời khuya?
Dịu dàng quá lời thì thầm của gió,
Ngủ ngoan thôi, ngọn cỏ mềm bé nhỏ
Biết đâu chừng thiên sứ đứng vây quanh?

Trái tim đa mang chở tình yêu chòng chành,
Quên với nhớ lắc lư nhịp sóng,
Anh là gì giữa bốn bề vang vọng?
Em nghẹn lòng khi thốt gọi thành tên…

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

Ai cũng có phú yếu lòng như thế..!

Em biết rằng anh sẽ chẳng yêu em
Nụ hôn ấy chỉ là phút giây nông nổi
Em dại dột, em trẻ con, em yếu đuối
Anh bỗng hóa thành người lớn bao dung


Em biết rằng anh sẽ chẳng nhớ em
Vì trái tim anh có thừa người khác
Những bản tình ca ở bên em anh hát
Sẽ có một người nào đó diễm phúc sau em


Em biết rằng rồi anh sẽ quên
Cái gì thoáng qua mấy ai còn giữ lại
Cho dù với em đó sẽ là mãi mãi
Anh bận lòng chi với một kẻ qua đường

Ðừng dằn vặt mình vì đã lỡ nói yêu thương
Ai cũng có những phút yếu lòng như thế
Em chẳng trách đâu vì tình yêu có thể
Ðến trong nhau bằng những phút dối lừa.!

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Hoa Hướng Dương


Bức tranh họa sĩ Van Gogh giữa cánh đồng hoa hướng dương


Hoa Hướng dương và ước vọng hướng tới mặt trời (20-07-2010) 



(Thegioidep.info)

Trong những loài hoa rực rỡ nhất, không thể không kể đến lòai hoa hướng dương.

Tên hoa như đã phản ánh tính chất của loài thực vật này khi được gieo trồng trên mặt đất - hướng về ánh mặt trời

Loài hoa Hướng Dương đã có từ lâu đời,  có nguồn gốc ở Bắc Mỹ cách đây khoảng 5000 năm.

Vào thế kỷ 16, các nhà thám hiểm mang hoa hướng dương sang châu Âu, rồi từ đó, nó được du hành theo con đường thương mại của các nhà buôn sang Nga, Ai Cập và Viễn Đông.

Có trên 150 loài hoa hướng dương, có loài cao đến 15 feet (~4,5m) trong khi đó có loài chỉ thấp khoảng 2-3 feet (0,6-0,9m). Hiện nay, hoa Hướng Dương được lai tạo đã ra hoa khi chêều cao của chúng chỉ khoảng 40 -50cm.

Và đây cũng là điều thuận tiện cho những người yêu hoa và thích trồng hướng dương trong không gian nhà không có nhiều diện tích.

Đóa hoa to lớn có những cánh vàng bao quanh một dĩa tròn màu vàng sẫm, nâu hay tím này thuộc về một nhóm có tên khoa học là Helianthus, do hai chữ Hy Lạp ghép lại : "helios" nghĩa là mặt trời và "anthos" là hoa

 


Năm 1532, Francisco Pizarro đã thuật lại việc ông nhìn thấy những người Inca bản xứ ở Pêru tôn thờ bông hoa hướng dương như một biểu tượng của mặt trời.

Các nữ thầy cúng Inca đeo những đĩa hoa hướng dương vàng trên trang phục của họ.

(Inca là tộc người da đỏ từng thống trị vùng Pêru cổ xưa cho đến khi người Tây Ban Nha sang xâm chiếm. Đế quốc Inca đã từng có một nền văn minh phát triển cao).

Theo thần thoại Hy Lạp, một tiên nữ dưới nước đã yêu Apollo-Vị thần Mặt Trời oai dũng.

Tiên nữ yêu chàng nhiều đến nỗi cô ngồi trên mặt đất và suốt ngày dõi hướng về phía mặt trời.

Thế nhưng, Apollo lại rất hờ hững và chẳng bao giờ chú ý đến nàng.

Các vị thần khác cảm thương nàng tiên nữ trẻ, đã biến nàng thành hoa Hướng Dương.

Điều này giải thích về mặt truyền thuyết tạo sao hoa hướng dương luôn luôn hướng theo đường đi của mặt trời.

Một truyền thuyết khác kể rằng Clytie, một tiên nữ đã yêu Helius-thần Mặt Trời, nhưng chàng lại khinh thị nàng và yêu một người con gái khác tên là Leucothoe.

Trong cơn ghen, Clytie đã mách chuyện tình của hai người này cho cha của Leucothoe-đức vua xứ Ba Tư. Ông sau đó đã chôn sống con gái mình để trừng phạt nàng.

Vì vậy, Helius càng ghét Clytie hơn khiến Clytie khốn khổ hóa thành hoa Hướng Dương, đầu luôn quay theo hành trình mặt trời đi từ Đông sang Tây mỗi ngày.

 


Hoa Hướng Dương mang nhiều ý nghĩa thay đổi tùy theo các nền văn hóa khác nhau.

Ở Trung Quốc, Hướng Dương được xem như biểu tượng của sự trường thọ.

Ở vùng núi Andes Nam Mĩ, người ta tìm thấy những hình ảnh hoa hướng dương bằng vàng trong các ngôi đền. Những người dân bản xứ miền Trung và Bắc Mĩ ép dầu hoa hướng dương làm thực phẩm, dược phẩm và thuốc nhuộm. Những người da đỏ sống trên thảo nguyên ở Bắc Mĩ đặt những tô chứa hạt hoa hướng dương trên mộ người chết. Người ta cho rằng, nếu một cô gái đặt 3 hạt hoa hướng dương xuống lưng, cô ấy sẽ cưới người con trai đầu tiên mà cô gặp.

 


Hoa Hướng Dương luôn hướng về phía mặt trời nên thường là biểu tượng của lòng trung thành, chung thủy sâu sắc, sự kiên định đó cũng biểu thị cho sức mạnh, uy quyền, sự ấm áp, nuôi dưỡng (tất cả những thuộc tính của mặt trời) và cả sự kiêu kỳ, vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài hay một tình yêu bất hạnh.

Những cây hoa Hướng Dương thấp tượng trưng cho sự đam mê trong ngôn ngữ của loài hoa.

Hoa Hướng Dương còn là biểu tượng của một thế giới không có vũ khí hạt nhân. Sau khi Ukraine từ bỏ đầu đạn hạt nhân cuối cùng, các bộ trưởng bộ quốc phòng của Mĩ, Nga, Ukraine đã gặp nhau bàn về một căn cứ tên lửa hạt nhân cũ của Ukraine vào tháng 4 năm 1996.

Họ tổ chức lễ gieo hạt và trồng hoa Hướng Dương.

Năm 1996 được cơ quan Vườn Quốc Gia Mĩ (the National Garden Bureau) chọn là Năm của hoa Hướng Dương.

Biểu tượng hoa chính thức của tiểu bang Kansas là Helicanthus annus, một loại hoa hướng dương và Kansas còn được biết đến như một tiểu bang Hoa Hướng Dương (Sunflower State).

 

Hoa hướng dương trong tranh của danh họa VanGogh:
Van Gogh là một họa sĩ  có cuộc đời bi thương, nghèo khổ và những bông hướng dương ông vẽ là một ước ao về sự huy hoàng và tỏa sáng, ông mong muốn cuộc đời cũng tươi đẹp và rạng rỡ như đóa hướng dương.

Mặc dù vậy, trong anh của ông, ngòai sự rực rỡ, hướng dương còn ẩn chứa một sự đau khổ đến tột cùng qua những nét cọ và những vệt màu dữ dội

 

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

Hình ảnh tứ thập nhị thủ nhãn đồ

Trích Kinh Đại Bi



(Lưu ý: Những chân ngôn sau đây, chỗ có vạch ngang dài là chữ đọc kéo hơi dài , chữ có ngang vắn là hai chữ đọc hiệp lại làm một, muốn cầu điều gì, đọc chân ngôn theo điều ấy).

1. Nếu chúng sanh nào muốn được giàu lớn, có nhiều thứ châu báu, đồ dùng, nên cầu nơi tay cầm châu như ý.

Chân ngôn rằng: Án--, phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.






2. Nếu muốn trị các thứ bịnh trên thân, nên cầu nơi tay cầm cành dương liễu.

Chân ngôn rằng: Án-- tô tất địa, ca rị, phạ rị, đa nẫm đa, mục đa duệ, phạ nhựt ra, phạ nhựt ra, bạn đà, hạ nẵng hạ nẵng, hồng phấn tra.





3. Nếu muốn trị các thứ bịnh trong bụng, nên cầu nơi tay cầm cái bát báu.

Chân ngôn rằng: Án--, chỉ rị, chỉ rị, phạ nhựt-ra, hồng phấn tra.





4. Nếu muốn trị bịnh mắt mờ không thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm châu nhựt tinh ma ni.

Chân ngôn rằng: Án--, độ tỉ, ca giả độ tỉ, bát ra phạ rị nảnh, tát-phạ hạ.





5. Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi tay cầm bạt chiết la.

Chân ngôn rằng: Án-- nễ bệ nễ bệ, nễ bà dã, ma ha thất rị duệ, tát-phạ hạ.





6. Nếu muốn hàng phục tất cả oán tặc, nên cầu nơi tay cầm chày kim cang.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt-ra, chỉ nãnh, chỉ nãnh, bát-ra nễ bát đa dã, tá-phạ hạ.





7. Nếu muốn trừ tánh ở tất cả chỗ sợ hãi không yên, nên cầu nơi tay thí vô úy.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt-ra, nẵng dã, hồng phấn tra.





8. Nếu bị các việc khuấy rối, muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm dây quyến sách.

Chân ngôn rằng: Án -- chỉ rị, lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.





9. Nếu bị bịnh nhiệt độc, muốn được mát mẻ hết bịnh, nên cầu nơi tay cầm châu nguyệt tinh ma ni.

Chân ngôn rằng: Án -- tô tất địa, yết rị, tát-phạ hạ.





10. Nếu muốn được làm quan, lên chức, nên cầu nơi tay cầm cung báu.

Chân ngôn rằng: Án -- a tả vĩ, lệ, tát-phạ hạ.





11. Nếu muốn được mau gặp các bạn lành, nên cầu nơi tay cầm tên báu.

Chân ngôn rằng: Án -- ca mạ lã, tát-phạ hạ.





12. Nếu muốn hàng phục tất cả quỷ, thần, vọng, lượng, nên cầu nơi tay cầm gươm báu.

Chân ngôn rằng: Án -- đế thế, đế nhá, đổ vĩ nảnh, đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.





13. Nếu muốn trừ những chướng nạn ác bên thân, nên cầu nơi tay cầm cây phất trắng.

Chân ngôn rằng: Án-- bát na di nảnh, bà nga phạ đế, mô hạ dã nhá, nga mô hạ nảnh, tát-phạ hạ.





14. Nếu muốn tất cả người trong quyến thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm cái hồ bình.

Chân ngôn rằng: Án -- yết lệ thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.





15. Nếu muốn xua đuổi loài hổ báo, sài lang và tất cả ác thú, nên cầu nơi tay cầm cái bàng bài.

Chân ngôn rằng: Án -- dược các sam nẵng, na dã chiến nại-ra, đạt nậu bá rị-dã, bạt xá bạt xá, tát-phạ hạ.





16. Nếu muốn trong tất cả thời, tất cả chỗ, lìa nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm cây phủ việt.

Chân ngôn rằng: Án -- vị ra dã, vị ra dã, tát phạ hạ.







17. Nếu muốn có tôi trai tớ gái để sai khiến, nên cầu nơi tay cầm chiếc vòng ngọc.

Chân ngôn rằng: Án -- bát na hàm, vị ra dã, tát-phạ hạ.





18. Nếu muốn được các thứ công đức, nên cầu nơi tay cầm hoa sen trắng.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt ra, vị ra dã, tát phạ hạ.





19. Nếu muốn được sanh về 10 phương tịnh độ, nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh.

Chân ngôn rằng: Án -- chỉ rị, chỉ rị, phạ nhựt ra, bộ ra bạn đà hồng phấn tra.





20. Nếu muốn được trí huệ lớn, nên cầu nơi tay cầm cái gương báu.

Chân ngôn rằng: Án -- vĩ tát phổ ra, na ra các xoa, phạ nhựt ra, mạn trà lã, hồng phấn tra.





21. Nếu muốn được diện kiến 10 phương tất cả chư Phật, nên cầu nơi tay cầm hoa sen tím.

Chân ngôn rằng: Án -- tát ra, tát ra, phạ nhựt ra, hồng phấn tra.





22. Nếu muốn lấy được kho báu ẩn trong lòng đất, nên cầu nơi tay cầm cái bảo kíp.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt ra, bát thiết ca rị, yết nẵng hàm ra hồng.





23. Nếu muốn được đạo tiên, nên cầu nơi tay cầm hóa hiện mây ngũ sắc.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt ra, ca rị ra tra hàm tra.





24. Nếu muốn sanh lên cõi Phạm Thiên, nên cầu nơi tay cầm bình quân trì.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt ra thế khê ra, rô tra hàm tra.






25. Nếu muốn được sanh lên các cung trời, nên cầu nơi tay cầm hoa sen hồng.


Chân ngôn rằng: Án -- thương yết lệ, tát phạ hạ.






26. Nếu muốn xua đuổi giặc nghịch ở phương khác đến, nên cầu nơi tay cầm cây bảo kích.


Chân ngôn rằng: Án -- thảm muội dã, chỉ nãnh hạ rị, hồng phấn tra.






27. Nếu muốn triệu tất cả chư thiên thiện thần, nên cầm nơi tay ống loa báu.

Chân ngôn rằng: Án -- thương yết lệ, mạ hạ thảm mãn diệm, tát phạ hạ.





28. Nếu muốn sai khiến tất cả quỷ thần, nên cầu nơi tay cầm cây gậy đầu lâu.

Chân ngôn rằng: Án -- độ nẵng, phạ nhựt ra.





29. Nếu muốn 10 phương chư Phật sớm đến đưa tay tiếp dẫn, nên cầu nơi tay cầm xâu chuỗi ngọc.

Chân ngôn rằng: Nẵng mồ -- ra đá nẵng, đát ra dạ dã, Án -- a na bà đế vĩ nhã duệ. Tất địa tất đà lật đế, tát phạ hạ.





30. Nếu muốn có được tất cả phạm âm thanh tốt nhiệm mầu, nên cầu nơi tay cầm chiếc linh báu.

Chân ngôn rằng: Nẵng mồ bát ra hàm bá noa duệ, án -- a mật lật đảm, nghiễm bệ thất rị duệ, thất rị, chiếm rị nảnh, tát phạ hạ.





31. Nếu muốn được miệng nói biện luận hay khéo, nên cầu nơi tay cầm chiếc ấn báu.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát phạ hạ.





32. Nếu muốn được thiên thần, long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi tay cầm cu thi thiết câu.

Chân ngôn rằng: Án - a rô rô, đa ra ca ra, vĩ sa duệ, nẵng mồ tát phạ hạ.





33. Nếu vì lòng từ bi muốn cho tất cả chúng sanh được nhở sự che chở giúp đỡ, nên cầu nơi tay cầm cây tích trượng.

Chân ngôn rằng: Án -- na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế na dạ bát nảnh, hồng phấn tra.





34. Nếu muốn cho tất cả chúng sanh thường cung kính yêu mến nhau, nên cầu nơi tay hiệp chưởng.

Chân ngôn rằng: Án - bát nạp mạng, nhá lăng hất rị. (Theo trong Tạng bản, lại có chân ngôn: Án -- vĩ tát ra, vĩ tát ra, hồng phấn tra).





35. Nếu muốn tùy theo chỗ sanh, thường ở bên Phật, nên cầu nơi tay hiện hóa Phật.

Chân ngôn rằng: Án -- chiến na ra, ba hàm tra rị, ca rị na, chỉ rị na, chỉ rị nỉ, hồng phấn tra.





36. Nếu muốn đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không thọ sanh ở bào thai, nên cầu nơi tay hiện hóa cung điện.

Chân ngôn rằng: Án -- vi tát ra, vi tát ra, hồng phấn tra.





37. Nếu muốn được học rộng nghe nhiều, nên cầu nơi tay cầm quyển kinh báu.

Chân ngôn rằng: Án -- a hạ ra, tát ra phạ ni, nễ dã đà ra, bố nễ đế, tát phạ hạ.





38. Nếu muốn từ thân này cho đến thân thành Phật, tâm bồ đề thường không lui sụt, nên cầu nơi tay cầm bất thối kim luân.

Chân ngôn rằng: Án -- thiết na di tả, tát phạ hạ.





39. Nếu muốn 10 phương chư Phật mau đến xoa đầu thọ ký, nên cầu nơi tay đảnh thượng hóa Phật.

Chân ngôn rằng: Án -- phạ nhựt rị ni, phạ nhựt lãm nghệ tát phạ hạ.





40. Nếu muốn có được cây trái ngũ cốc, nên cầu nơi tay cầm chùm bồ đào.

Chân ngôn rằng: Án -- A ma lã kiếm đế nễ nãnh, tát phạ hạ.





41. Nếu muốn cho tất cả loài hữu tình đói khát được no đủ mát mẻ, nên cầu nơi tay hóa nước cam lộ.

Chân ngôn rằng: Án -- tố rô tố rô bác ra tố rô, bác ra tố rô, tố rô dã, tát phạ hạ.





42. Nếu muốn hàng phục ma oán trong cõi đại thiên, nên cầu nơi tay tổng nhiếp thiên thủ.

Chân ngôn rằng: Đát nễ dã thá, phạ lồ chỉ đế, thấp phạ ra dã, tra ô hạ di dã, sá phạ ha.