
Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011
Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011
NHỮNG BỨC HINH THIÊN NHIÊN KỲ DIỆU
ĐỀN THỜ CHU VĂN AN - NÚI PHƯỢNG HOÀNG - CHÍ LINH - HẢI DƯƠNG
Núi Phượng Hoàng và Đền thờ Chu Văn An được xây dựng tại núi Phượng Hoàng, xã Văn An, huyện Chí Linh (Hải Dương), cách khu di tích Côn Sơn khoảng 4 Km. Đây cũng là một điểm di tích văn hoá và danh thắng với cảnh rừng thông trùng điệp, có đền thờ và Lăng mộ người thầy giáo của muôn đời - Thầy giáo Chu Văn An. Núi Phượng Hoàng có rừng thông bát ngát, suối trong rì rào, đá núi lô xô, chùa tháp cổ kính với 72 ngọn núi ngoạn mục, một vùng núi nằm giữa một quần thể di tích và danh thắng, nơi di dưỡng tinh thần của danh nhân từ thời Lý- Trần. Tại đây có Huyền Thiên tự, Lệ Kỳ tự là những ngôi chùa cổ nổi tiếng.
Chu Văn An(1292- 1370) là một nhà giáo lừng danh thời Trần, quá nửa đời người làm Tư nghiệp Quốc tử giám, học trò nhiều người thành đạt. Sau khi dâng Thất trảm sớ, tâu vua giết 7 tên nịnh thần không thành công, ồng về Phượng Hoàng ẩn dật, dậy học, bốc thuốc, làm thơ để lại cho hậu thế. Ông sống ở đây hơn mười năm đến khi mất năm 1370, hưởng thọ 78 tuổi. Sau khi qua đời, được nhà vua tặng thụy hiệu là Văn Trinh, học trò an táng tại đây và lập đền thờ gọi là đền Phượng Hoàng.
Khu di tích bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1997, từng hạng mục công trình được khôi phục bằng tiền công đức của giáo viên và học sinh cả nước. Tại đây còn nhiều dấu tích thời Trần và bia ký nói về sự nghiệp thầy Chu và quá trình tôn tạo đền thờ Chu Văn An. Cuối triều Lê Trung Hưng được xếp vào hàng Chí Linh Bát cổ.
Theo sử sách, Chu Văn An , nguyên có tên là Chu An, tự là Linh Triệt, biệt hiệu là Linh Triệt. Vua Trần Minh Tông đã mời ông về kinh làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương chức Hiệu trưởng trường đại học hiện nay), trực tiếp dạy học Thái tử.
Đền thờ Nhà giáo Chu Văn An - người được các sử gia và nhân dân tôn vinh là "Vạn thế sư biểu" - đã khánh thành vào ngày 4-1.-2008. Đền thờ được khởi công từ 15-2-2004, kinh phí đầu tư lên tới gần 16 tỷ đồng từ nguồn tài trợ của Bộ Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, tỉnh Hải Dương và công đức của nhân dân. Công trình được tu bổ, tôn tạo dựa trên phế tích nhân dân dựng đền thờ tại nơi ông làm nhà dạy học ở núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc (nay là xã Văn An), nơi có 4 trong số 8 di tích nổi tiếng của đất Chí Linh xưa (Chí Linh Bát cổ) gồm, Huyền Thiên cổ tự (chùa cổ Huyền Thiên), Thượng tề cổ trạch (nhà cũ của quan tể tướng Trần Quốc Chẩn sống cuối thời Trần), Tinh Phi cổ tháp (tháp mộ Bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ Nho học duy nhất của nước ta, sống trong thời Lê - Trịnh) và Tiều Ân cổ bích (nhà ở ẩn của Chu Văn An). Công trình với các hạng mục chính như: đền thờ, phần mộ, hai dãy nhà giải vũ, điện Lưu Quang, tháp bút, giếng Son, Miết Trì (ao nuôi ba ba), đặt trong tổng thể kiến trúc hài hòa, vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa có nét hiện đại và tạo cảnh quan hoành tráng. Để mở rộng không gian di tích, núi Phượng Hoàng được bạt sâu vào phía trong hàng chục mét. Di tích Phượng Hoàng còn được nối với khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc bằng con đường nhựa dài 8km.



KHÚC MÙA THU - HỒNG THANH QUANG - LÊ DUNG
Nỗi cô đơn vằng vặc giữa trời...
Sao thương ai ở mãi cung hằng
Lời nguyện cũ trên đầu như nguyệt quế
Chẳng chịu nhòa khi tới giữa mùa trăng.
Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc
Có điều chi em mải miết đi tìm.
Em cũng là như mọi người thôi
Nhưng chưa hết cuộc yêu tôi đã hiểu
Em ám ảnh tôi trọn một kiếp người.
Bầu lặng yên cũng đã vỡ rồi
Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp
Khi thanh âm cũng bất lực như lời.
Nỗi cô đơn vằng vặc giữa trời
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc
Em tìm gì khi thất vọng về tôi.
Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011
Thơ về Mẹ ( sưu tầm )
Cho con nỗi nhớ không rời
Cho con ấm cả chân trời nắng lên
Ngày về tóc mẹ bạc thêm
Mong con chân cứng đá mềm phương xa
Đôi khi nhìn ráng chiều tà
Chừng như thấp thoáng quê nhà nhớ thương
Nhớ thương xin được hát thầm
Lời ru của mẹ ngàn năm mãi còn
Ngôn ngữ trần gian như túi rách
Đựng sao đầy hai tiếng Mẹ Yêu
Với tay con níu thời gian
Thời gian lặng lẽ bay vào hư vô
Một lạy này xin được tạ lỗi ngày xưa con bất hiếu
Đã từng làm mẹ khóc như mưa
Từng làm mẹ khổ ngày xưa, trăm ngàn lạy cũng chưa vừa ơn mẹ
Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Mặc dầu nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi
Độ nhỏ tôi không tin
Người thân yêu sẽ mất
Hôm ấy tôi sững sờ
Và nghi ngờ trời đất
Từ nay tôi hết thấy
Trên trán mẹ hôn con
Những khi tôi phải đòn
Đau lòng mẹ la lại
Kìa nhà ai bên cạnh
Mẹ con vỗ về nhau
Tim mẹ tôi không thấy
Lúc buồn biết trốn đâu
Hoàng hôn phủ trên mồ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi biết tôi mất mẹ
Là mất cả bầu trời
(Xuân Tâm)
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối, một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ, xin giọt cuối để dành
Vương trên mộ mẹ nương hình bóng cha
Mẹ có nghĩa là mãi mãi
Là cho đi không đòi lại bao giờ
Mẹ có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng
Mẹ có nghĩa là tình yêu
Mẹ có nghĩa là sự sống, là hạnh phúc
Nhưng chỉ một lần mẹ không ngăn con khóc
Là khi mẹ không thể nào lau nước mắt cho con
Là khi mẹ không còn,
hoa hồng đỏ, từ đây hoa trắng
Tôi không khóc khi cài hoa trắng
Vì trong hoa tôi thấy mẹ tôi cười
Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011
Chúc mừng Sinh Nhật Tháng 7







